GIEO CHỮ BÊN DÒNG SÊ BĂNG HIÊNG 

 

                                          

                                                                                                            Bút ký - Nguyễn Thành Phú                          

         Đã có người ví von rằng, làm nghề gieo chữ cho những em nhỏ đồng bào các dân tộc thiểu số nơi vùng cao biên giới giống như cúi lưng xuống đi nhặt từng hạt nắng gom lại, cất giữ rồi sau đó đem chia cho các em khi tiết trời vào mùa giá rét. 

Đêm của rừng thật tĩnh lặng, dòng Sê Băng Hiêng róc rách con nước luồn qua các kẽ đá, thả vào không gian những nốt trầm của mùa khô dòng nước cạn. Chúng tôi ngồi nghe ông Hồ Tun, già làng của bản Sê Pu kể lại lời người xưa về những quãng ngày u tối của người Vân Kiều. Giọng ông hòa vào trong cơn gió của đại ngàn Trường Sơn:  Xưa kia, người Bru sinh tụ ở miền Trung của đất nước Lào, thế nhưng do chiến tranh giữa các bộ tộc Lào và nạn đói khát xảy ra triền miên nên phải di cư đi tìm nơi ở mới. Trong cuộc di cư đầy gian khổ ấy, cộng đồng người Bru đã phải chia ra hai nhóm, một nhóm đi theo hướng Tây Bắc sang Thái Lan, một nhóm đi theo hướng Đông về Việt Nam rồi dựng làng ở xung quanh ngọn núi Viên Kiều (hay còn gọi là Vân Kiều). Về sau, người ta lấy tên của ngọn núi ấy đặt cho một tổng của người Bru và từ đó, cái tên Vân Kiều mới được hình thành.

Già làng Hồ Tun dừng lời, chêm thêm một nhúm nhỏ sợi thuốc vào chiếc tẩu như đang tìm nhớ thêm các chi tiết cho phần tiếp theo của câu chuyện, trong lúc đôi mắt ông nheo lại để suy nghĩ thì bất chợt một giọng kể chắp nối vào lời kể của ông còn dang giở:

- Khi dừng chân lập bản, phần đông người Vân Kiều cư trú tương đối biệt lập trên đồi hoặc lưng chừng núi, dọc theo những con nước và sống gần như tách biệt, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Cuộc sống phần nhiều dựa vào tự nhiên bằng cách săn bắt và hái lượm và phải mang lời nguyền truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mãi sống kiếp lang thang, đời đời cô độc như đại bàng không có tổ, sinh ra, lớn lên rồi chết đi trong hang đá. Người Vân Kiều quan niệm, một ngọn núi, phía trên là địa phận của trời, là nơi linh thiêng để vươn tới, còn bên dưới là cõi âm, cây cối, đất đai, sông suối... thuộc về ma, thế nên người Vân Kiều không có thói quen sinh sống tại những vùng thấp. Chính vì lẽ ấy mà dẫu bao đời chịu đói khổ vì sống biệt lập nơi rừng hoang nhưng người Vân Kiều vẫn không chịu rời khỏi vùng đất của tổ tiên. Thêm vào đó các hủ tục hà khắc, thói quen sinh hoạt lạc hậu, chất lượng cuộc sống thấp càng khiến cho kiếp đời của người Vân Kiều chỉ biết cúi mặt xuống đất để địu trên lưng những cái khổ, cái nhọc nhằn, vất vả.

Người kể cũng đột ngột dừng lời như khi kể tiếp câu chuyện của già làng Hồ Tun bằng câu hỏi

- Con kể như vậy có đúng không già làng?

- Thầy Trí kể như vậy là đúng rồi đó, thầy Trí là người miền xuôi mà biết rõ về dân tộc Vân Kiều mình đó.

Thầy Trí. Một tên gọi về một con người với những gì đã thể hiện đang làm tôi tăng dần tính tò mò trong suy nghĩ của mình. Già làng Hồ Tun gọi bằng Thầy thì chắc chắn là người dạy học cho trẻ em của bản rồi. Tôi nhìn kỹ hơn và cũng muốn tìm hiểu kỹ hơn về con người này.

Thế rồi tôi và thầy Trí đã có buổi nói chuyện cùng nhau trong ngôi trường bên cạnh dòng Sê Băng Hiêng mùa con nước cạn.

Sinh ra và lớn lên ở làng Trà My, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Huế năm 2002, từ đó đến nay, thấy Trí ngày ngày bền bỉ bước chân trên những nẻo đường bản làng xa xôi để dạy chữ cho các em học sinh người Vân Kiều, Pa Kô nơi vùng cao biên giới. Từ điểm trường bản Trỉa xã Hướng Sơn, bản A Điêng xã Tà Rụt đến toàn bộ các điểm trường của xã Hướng Lập. Hơn 20 năm làm nghề thầy giáo dạy học ở vùng cao, duy nhất niên học 2013-2014 là thầy Trí được dạy tại điểm trường chính ở trường Tiểu học xã Hướng Lập, khoảng thời gian còn lại, Thầy đều gắn bó với các em học sinh ở những bản xa, cũng vì lẽ đó mà khi trao đổi với tôi, thầy  Phan Trí đã nói “Quá trình công tác giảng dạy của em là những chuỗi ngày ở lẻ”

Chuỗi ngày ở lẻ. Một câu nói khiến lòng tôi có cảm giác bùi ngùi. Những người làm nghề  “Trồng người”  ở thành phố, đồng bằng vốn đã gian nan, vất vả thì trên các ngôi trường nơi núi cao, rừng thẳm, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số, sự nghiệp  gieo chữ càng gian nan, vất vả, khó khăn hơn bội phần. Tuổi thanh xuân gửi lại nơi núi rừng, bao ước mơ, hoài bão lớn lao, bây giờ phải gom hẹp lại, đơn giản hơn là chỉ mong sao cho các em học sinh vùng bản có cái chữ, có kiến thức để bớt đi cái khổ mà bao kiếp người đi trước đã phải trải qua. Nhiều thầy, cô bám bản dạy chữ đã nói với tôi như vậy, song tôi lại nghĩ, đó là những ước mơ, những hoài bão lớn lao hơn tất cả mọi ước mơ khác.

Không biết có phải là định mệnh của cuộc đời hay do niềm say mê nghề nghiệp, tình yêu quý con trẻ vùng cao mà thầy giáo Phan Trí đã gắn bó với vùng đất Hướng Lập 18 năm trời để miệt mài gieo cái chữ bên dòng sông Sê Băng Hiêng ấm hơi lá rừng già. Bắt đầu từ khóa học 2004-2005, thầy giáo Trí cầm trên tay tờ quyết định làm giáo viên hợp đồng công tác tại trường Tiểu học và Phổ thông cơ sở xã Hướng Lập. Ngày đó tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây đang trong thời điểm thi công giai đoạn cuối nên cung đường như dài thêm bởi đá núi gập ghềnh, bởi suối sâu, bùn nhão và cả bởi nỗi nhớ cứ phải ở lại phía sau. Vừa đặt chân đến nơi công tác mới, sau vài ngày ngắn ngủi nắm tình hình chung, nhận thấy khu vực bản Cựp đang còn trắng giáo dục khi chưa có lớp học, thầy Trí đã tình nguyện vào gây dựng lớp học cho các em nhỏ của bản này. Phải mất cả tháng trời đến từng nhà vận động, rồi cùng với cán bộ, chiến sỹ đồn Biên phòng Cù Bai (Nay là đồn Biên phòng Hướng Lập) vào rừng chặt cây, tre, nứa về dựng lớp học, làm bàn, ghế, cuối cùng lớp học ở bản Cựp cũng được khai giảng với 24 em học sinh.

- Đây có lẽ là lớp học đáng nhớ nhất trong cuộc đời làm giáo viên của tôi đó anh.

- Vì sao? Tôi hỏi thầy Trí

Thầy hồi tưởng lại lớp học do mình dạy chữ nơi  bản xa ngày ấy. Lớp học gồm 24 em thì đủ nhiều lứa tuổi, có em đã 13, 14 tuổi nhưng cũng có em chỉ mới 6,7 tuổi ngồi chung cùng nhau trong lớp 1C. Ngày đầu tiên tiếp xúc, các em chưa nói rõ tiếng phổ thông nên cả thầy lẫn trò như đánh vật ngôn ngữ với nhau. May đã có những năm công tác ở các bản làng của người Vân Kiều nên Thầy cũng biết được một số tiếng chủ yếu của người dân, vì thế mà thầy và trò dễ hiểu nhau hơn. Buổi sáng dạy chính khóa, buổi chiều phụ đạo thêm cho các em về những kiến thức đã học và dạy thêm tiếng phổ thông. Thời điểm khi ấy, hệ thống giao thông chưa phát triển, cho nên mọi nhu cầu về lương thực, thực phẩm đều phải tự cung, tự cấp. Hàng ngày, tầm khoảng 4 giờ chiều là cho các em nghỉ học để Thầy đi thả lưới bắt cá, chăm vườn rau, chăn nuôi gà...ăn cơm tối xong, lại mò mẫn trong đêm đến từng nhà kiểm tra các em học bài cũ. Lương hợp đồng chỉ vọn vẹn 500 nghìn đồng/tháng nhưng phải 3 tháng mới nhận một lần, cho nên tranh thủ ngày thứ 7, chủ nhật, Thầy theo phụ huynh đi tìm nhặt phế liệu về bán kiếm tiền trang trải cho nhu cầu tối thiểu cuộc sống bản thân. Nhưng được cái, bà con rất thương, hôm cho con gà, khi cho mớ rau, lúc vài lon gạo, rồi mấy cái bắp chuối rừng...và đó chính là nguồn động viên lớn lao nhất giúp thầy bám trụ dạy chữ cho các em học sinh. Năm học kết thúc, niềm vui dâng tràn trong tâm trạng cả thầy và trò khi trong số 24 học sinh của bản Cựp đã có 8 em đạt loại giỏi, 7 em đạt loại khá và 9 em đạt trung bình, không có em nào xếp loại yếu.

Đang khi thầy trò bén hơi, quen tiếng nhau thì niên học kế tiếp, nhà trường điều động Thầy vào dạy tại điểm trường bản Tri vì nơi ấy đang rất cần giáo viên hiểu về tâm lý học sinh vùng cao để giúp đỡ các em học tập. Không khác gì mấy so với điểm trưởng bản Cựp, con đường vào bản vẫn gập ghềnh đá núi, suối khe, phòng học được dựng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá, chỉ khác là các em nơi đây đã đi học từ năm trước, vì thế việc đến trường học chữ của các em đã bớt đi sự bỡ ngỡ ban đầu. Tuy nhiên học sinh ở bản này lại đi học không chuyên cần, các em thường xuyên nghỉ học theo bố, mẹ lên nương rẫy hoặc ở nhà trông em cho bố, mẹ đi làm. Lớp huy động được 26 em nhưng có hôm, sỹ số đến lớp chỉ có 6 hoặc 7 em. Cuộc sống mưu sinh trước mắt quá vất vả, cơm chưa đủ no, áo mặc chưa đủ ấm nên việc chăm lo học hành cho con trẻ vẫn là một điều gì đó rất xa xỉ đối với người dân nơi đây. “Cái chữ không làm no cái bụng” câu nói ấy đã trở thành cửa miệng của các bậc phụ huynh mỗi khi Thầy và đồng nghiệp đến từng nhà vận động bà con cho trẻ em đi học. Một ngày, hai ngày. Một tuần, hai tuần....cứ thế, bằng sự kiên trì của Thầy và đồng nghiệp, cùng với sự góp sức vô cùng quý báu của những người chiến sỹ Biên phòng, sỹ số lớp học tại bản Tri mỗi ngày ổn định hơn. Để giúp các em bản Tri theo kịp và hoàn thành chương trình học, đêm đêm, hôm mưa cũng như khi tạnh ráo, thầy Trí cùng đồng nghiệp và các chiến sỹ Biên phòng đều tranh thủ thời gian nghỉ ngơi của mình, đến từng nhà học sinh dạy phụ đạo thêm cho các em. Khó khăn không phụ công sức của Thầy và đồng nghiệp, cuối năm học ấy, toàn bộ học sinh lớp của Thầy ở bản Tri đều đủ điểm để lên học lớp cao hơn.

- Dạy học ở vùng cao tuy gian khổ, vất vả, thiệt thòi nhưng cũng có những cái thú vị mà các thầy, cô ở miền xuôi không có được đâu ạnh ạ

- Những điều thú vị đó là gì vậy Thầy? Tôi hỏi lại thầy Trí.

Thầy mỉm cười như đang cố giữ một điều gì đấy thật bí mật. Đêm đã khuya lắm rồi nhưng xen lẫn trong cơn gió rừng già là tiếng những tiếng cười nói nghe rất vui vẻ

- Ai giờ này mà còn đi ngoài rừng vậy nhỉ? Tôi hỏi thầy Trí với sự ngạc nhiên của mình

- Thanh niên trong bản đi nhà Sim về đó anh.

Thầy Trí trả lời rồi tiếp luôn câu nói “Đó cũng chính là điều thú vị nhưng cũng là điều bí mật của em đó”. Năm học 2012-2013, em dạy tại điểm trường thôn Cuôi, một hôm đang đi từ dưới suối lên thì gặp một em học sinh gái đứng chờ, nghĩ là em ấy đến hỏi bài nên bảo em ấy vào trong nhà. Nào ngờ em ấy nói “Không phải mình đến hỏi bài thầy giáo mà mình đến rủ thầy giáo tối đi nhà sim với mình”. Anh biết không, lúc ấy em chỉ biết lấy lý do tối bận việc để từ chối. Ngày hôm sau, chẳng thấy em đến lớp, cứ tưởng em ấy bị ốm hay ở nhà trông em cho bố, mẹ, mấy ngày tiếp theo cũng thế, hỏi những học sinh khác trong lớp, em mới hiểu ra vấn đề là cô học trò ấy giận vì thầy giáo không chịu đi nhà sim, em phải đến nhà giải thích, cô học trò mới chịu đi học trở lại.

- Phong tục đồng bào các dân tộc thiểu số có rất nhiều nét khác xa với người miền xuôi nên mình phải tìm hiểu kỹ mới tránh được những điều cấm kỵ. 

Thầy Trí đã nói như vậy

Dòng Sê Băng Hiêng vẫn lặng lẽ xuôi con nước như hòa chung vào câu chuyện của chúng tôi. Thầy Trí pha thêm ấm trà mới, đã là ấm thứ ba rồi đấy nhưng câu chuyện về Thầy vẫn chưa kết thúc. Sương ẩm theo từng đợt gió của rừng già sà vào tận chiếc bàn nơi chúng tôi trò chuyện

- Bây giờ điều kiện dạy và học trên miền núi đã có nhiều thay đổi, cơ sở vật chất, trường, lớp khang trang, cuộc sống người dân được cải thiện đáng kể hơn ngày trước rất nhiều nên việc học tập của con trẻ cũng bớt đi sự nhọc nhằn, vất vả.

Thầy Trí nhấp thêm ngụm nước chè mới pha rồi tiếp nối câu chuyền về những tháng ngày “ở lẻ” của mình.

Tháng 9 năm 2007, trải qua 5 năm là giáo viên hợp đồng, thầy Trí đã được vào biên chế của ngành giáo dục rồi bám trụ nơi miền biên viễn Hướng Lập dạy luân phiên tại các điểm trường khác nhau. Cuộc sống và nghề dạy chữ cho các em nhỏ trên vùng cao biên giới của thầy Trí cũng thưa như người làm nghề chèo đò không trở về bến cũ, chèo đưa khách qua sông xong là lại đi tìm những vị khách khác ở bến mới, mà nếu có đậu lại bến cũ thì lữ khách qua sống cũng ngỡ đó là người chèo đò mới. 18 năm “gieo chữ” bên dòng Sê Băng Hiêng trên địa bàn xã Hướng Lập, thầy Trí đã đến đủ tất cả các điểm trường để “trồng người” cho bản làng nhưng với Thầy, nơi lưu lại lâu nhất và cũng nhiều kỷ niệm nhất là những năm tháng dạy tại điểm trường thôn Tà Păng. Niên học 2015-2016, lần thứ nhất thầy Trí cùng với các thầy Hồ Văn Liêm, thầy Nguyễn Đình Quảng dạy chữ cho các em từ lớp 1 đến lớp 5, đã vậy do chỉ có 3 thầy nên các thầy đã phải dạy lớp ghép để học sinh theo kịp chương trình. Tại thời điểm ấy muốn vào được bản Tà Păng, bất kỳ ai cũng phải vai mang quân tư trang và hành quân bộ tầm 2 giờ đồng hồ mới đến được ngôi nhà đầu tiên của bản. Sự heo hút, xa xôi, gian khổ đã làm không ít người nản lòng khi đến với bản nhỏ này.

Ba chàng thanh niên, ba người thầy giáo ở chung trong một căn phòng nhỏ, bên cạnh là lớp học tuy đã được xây theo chương trình 135 nhưng bàn ghế xộc xệch, những cánh cửa đã bị gió núi xô lệch tơi tả, cả bản chưa có hộ dân nào cất dựng được căn nhà khang trang mà chỉ toàn nhà sàn thưng bằng tre, nứa, lợp bằng tranh và chẳng một gia đình nào đủ cái ăn, cái mặc....vì thế, cuộc sống sinh hoạt của ba thầy giáo cũng chẳng thể nào tươm tất hơn được. Tuy nhiên điều mà các thầy gặp khó khăn chính là con trẻ nơi đây chưa có ý thức về học tập, đi học không chuyên cần, thích thì đến lớp, không thì ở nhà, bố mẹ thiếu hẳn sự quan tâm đến việc học của con em mình, việc ôn luyện bài học ở nhà của các em hầu như là không có em nào thực hiện.

Qua một thời gian ngắn tìm hiểu, thầy Trí đã đúc rút được nguyên nhân, từ đó Thầy đã bàn với các đồng nghiệp tổ chức những trò chơi phù hợp, thay đổi phương pháp truyền đạt kiến thức để học sinh cảm thấy hứng thú khi đến lớp so với lúc ở nhà. Thầy nghĩ ra nhiều trò chơi, tiếp cận trò chuyện, kể cho các em nghe những câu chuyện về người tốt, người hay để giáo dục học sinh và tạo hứng thú cho các em đến trường. Dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu khả năng của từng em, cuối cùng thầy Trí đã chọn cho mình cách dạy trên cơ sở các em biết đến đâu thì dạy đến đó để cho các em thích thú mỗi khi đến lớp bởi nếu cứ cứng nhắc bắt các em làm được theo đúng yêu cầu của trình độ cần đạt được thì các em rất dễ mang tâm lý chán nản và sẽ nghỉ học mà chẳng cần đến lý do hay nghĩ về hậu quả sau này. 

Đang kể cho tôi nghe về học sinh của bản Tà Păng, bỗng nhiên giọng thầy Trí trầm xuống. Nhấp thêm một chén trà đặc, thầy Trí tiếp tục dòng cảm xúc của mình.

- Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong 2 lần dạy tại điểm trường Tà Păng của tôi là những lần đi vận động học sinh. Học sinh vùng bản vốn nhút nhát, quen nhiều với lối sống tự do, phong trần và một phần nào đó thiếu đi sự quan tâm của gia đình nên việc đến lớp hay nghỉ học chủ yếu xuất phát từ sở thích cá nhân. Năm 2017, trong lần đi vận động học sinh đến lớp, tôi gặp trường hợp cậu bé Hồ Văn Sỹ con ông Hồ Văn Trực (Pả vẽ) không chịu đến trường mặc dù đã được các đồng nghiệp của tôi những năm trước vận động. Cậu bé Sỹ có hoàn cảnh rất đáng thương, mẹ mất vì bị bệnh ung thư vú, bố thì suốt ngày say rượu nên chẳng có ai quan tâm đến Sỹ dần dần trong em hình thành tính tự ti đến nỗi hễ cứ thấy người lạ là em bỏ trốn, ai hỏi cũng không nói. Cuộc sống của em là chuỗi ngày buồn lặng và chẳng bao giờ em nở được nụ cười không cười hồn nhiên trẻ thơ như các bạn cùng trang lứa. Biết rõ về em nên ngày nào tôi cũng rủ thêm mấy trong lớp đến nói chuyện, dần rồi em Sỹ đã bớt sợ hơn song vẫn không chịu đến lớp. Sau nhiều lần động viên em đến lớp mà không đạt kết quả, tôi đã xin phép và  được sự đồng ý của gia đình, tôi đến nhà bồng em đi học. Những buổi đầu em phản ứng rất mạnh, gào khóc, cắn, cào cấu, la hét...và luôn miệng đòi về nhà. Để giúp em nhanh chòng hòa nhập với bạn bè, tôi luôn bày những trò chơi, chỉ bày cho em vẽ tranh, tô màu, tạo cảm giác thân thiện cho em, sau một thời gian ngắn em Sỹ đã tự giác đến lớp, đi học rất chuyên cần, chịu khó và đã đạt được kết quả rất đáng mừng, năm nay, em Sỹ đã hoàn thành chương trình lớp 4 và chuẩn bị bước vào lớp 5.  

Mảnh trăng ngày cuối tháng đã lui dần vào ngọn núi, dòng Sê Bằng Hiêng dường như cũng đang lắng nghe chúng tôi tâm sự. Sông không biết nói nhưng sẽ là chứng nhân cho bao sự thăng trầm, đổi thay của một miền quê nơi đầu nguồn biên ải. Năm nay Thầy Trí đã bước sang tuổi 45, cái tuổi báo hiệu đôi chân sẽ dần bớt đi sự dẻo dai như thời trai trẻ. Mà cũng đã tròn 20 năm, thầy Trí đi “gieo chữ’ khắp các bản làng vùng cao biên giới. Thế nhưng thầy Trí vẫn bảo với tôi rằng “Tôi sẽ vẫn tiếp tục đi nhặt từng hạt nắng để gom lại rồi chia cho các em nhỏ ở vùng cao khi mùa đông đến”./.

                                                                                                NTP